|
Theo các quy định của Luật Cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh và có sự phối hợp với các cơ quan chức năng khác trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi Luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành được xây dựng mới hoặc được điều chỉnh cùng với sự hình thành các cơ quan quản lý chuyên ngành thường có một xu hướng hình thành các quy định điều tiết về cạnh tranh trong các lĩnh vực chuyên nghành và do cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện. Chính các quy định này dẫn đến những mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Cạnh tranh, gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định của Luật Cạnh tranh đối với doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực trạng đó, Ngày 6/11/2009 tại Thành phố Đà Nẵng, Cục Quản lý cạnh tranh phối hợp với JICA đã tổ chức Hội thảo “Thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh trong một số lĩnh vực chuyên ngành: kinh nghiệm của Nhật Bản và thực tiễn ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra”.
Về phía Cục quản lý cạnh tranh có sự tham gia của Ông Vũ Bá Phú, Phó Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh với tư cách là chủ tọa hội thảo và các cán bộ, chuyên viên của các đơn vị trong Cục. Các diễn giả gồm Bà Kumico Tanaka - Chuyên gia thường trú của JFTC tại Việt Nam, Ông Nguyễn Hữu Huyên – chuyên gia pháp luật cạnh tranh, Bộ Tư pháp, Bà Trần Phương Lan – Trưởng Ban giám sát và quản lý cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh cùng đông đảo các đại biểu là đại diện của các Ban/Ngành tại Đà Nẵng và các tỉnh lân cận, các doanh nghiệp tại địa phương và các cơ quan truyền thông.
Bà Tanaka mở đầu buổi hội thảo với bài tham luận về Luật cạnh tranh/Cơ quan cạnh tranh và Luật chuyên ngành/Cơ quan điều tiết ngành” nêu bật tình hình thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh trong một số lĩnh vực chuyên ngành tại Nhật Bản kể từ khi Luật chống độc quyền được Ban hành. Ở Nhật Bản, trong các ngành không có điều tiết (non – regulated sectors), việc xác định cơ quan nào xử lý vụ việc phát sinh là khá đơn giản: Vấn đề về cạnh tranh thi do cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý, vấn đề khác không thuộc phạm vi cạnh tranh do cơ quan chuyên ngành khác, vấn đề liên quan tới cả hai do cả hai cơ quan cùng phối hợp xử lý. Tuy nhiên, đối với một đất nước mà cơ quan cạnh tranh còn non trẻ hoặc hệ thống pháp luật cơ bản có sự khác biệt thì việc thực hiện điều này không hề đơn giản. Bên cạnh đó là các khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về vụ việc do các doanh nghiệp và các bên liên quan không sẵn lòng tiết lộ thông tin và không muốn để cơ quan cạnh tranh can thiệp.
Trong quá trình xây dựng các văn bản luật chuyên ngành, điều quan trọng là luôn đảm bảo thể hiện được quan điểm của chính sách cạnh tranh khi xây dựng hệ thống pháp luật thông qua việc thực hiện các báo cáo về mức độ phù hợp của các quy định hiện hành hoặc thông qua việc phối hợp trong suốt quá trình xây dựng luật.
Bài tham luận cũng đã cung cấp một số ví dụ điển hình trong việc xét xử các hành vi phản cạnh tranh của các công ty như: Công ty Viễn thông NTT East, một vụ việc chỉ dẫn gây nhầm lẫn tại Nhật Bản, … trong đó chỉ rõ việc can thiệp của JFTC là rất cần thiết trong việc xử lý các vụ việc cạnh tranh, tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh tại Nhật Bản.
Chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và thực thi Luật cạnh tranh tại Việt Nam, Bà Trần Phương Lan đề cập đến sự hiểu biết còn hạn chế của cộng đồng doanh nghiệp nói chung về cạnh tranh. Trong đó, các doanh nghiệp phần nhiều còn chưa biết đến một công cụ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình là các quy định của Luật cạnh tranh và một cơ quan mà họ có thể gửi khiếu nại tới là Cục Quản lý cạnh tranh. Thực tế, nhiều vụ việc hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã được Cục Quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh thụ lý và xét xử đã cho thấy hiệu quả của các cơ quan này trong việc bảo vệ những quyền lợi của doanh nghiệp.
Bà Lan cũng đề cập tới những bất cập trong việc hiện tại có sự giao thoa, chồng chéo trong việc phân định thẩm quyền của cơ quan thụ lý xét xử và thủ tục xét xử. Trong đó, xu hướng đưa các vấn đề về cạnh tranh vào các Luật chuyên ngành như các Luật về: Viễn thông, điện lực, ngân hàng, chứng khoán,… đang thể hiện rõ nét. Vấn đề này cần được nghiên cứu, xử lý đề tránh gây khó khăn cho các cơ quan quản lý đồng thời tránh gây lãng phí nguồn lực xã hội.
Ông Nguyễn Hữu Huyên - Chuyên gia về luật cạnh tranh đến từ Bộ Tư Pháp đã chia sẻ với hội thảo những kinh nghiệm trên thế giới liên quan tới thẩm quyền xét xử vụ việc cạnh tranh trên thế giới. Trong đó, tại Mỹ thẩm quyền về cạnh tranh tập trung ở hai cơ quan là Bộ Tư pháp và Ủy ban thương mại Liên Bang. Ở Mỹ không có quy định cụ thể nào xử lý xung đột giữa luật cạnh tranh và các luật chuyên ngành. Song, nếu xem xét các án lệ của Toà án tối cao cũng như của các Toà án bang, có thể thấy các đạo luật về cạnh tranh vừa nêu đóng vai trò “tối thượng”.
Khác với Mỹ, cơ quan quản lý cạnh tranh của Châu Âu được thống nhất là Ủy Ban châu Âu EC. Trong đó, phạm vi áp dụng luật cạnh tranh của EU được xác định theo nhóm các quan hệ sản xuất, phân phối, tiêu thụ cả đối với thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ. Các chính sách điều tiết cạnh tranh phải được áp dụng một cách chặt chẽ ; các chính sách điều tiết ngành không được đặt ra thêm các ràng buộc pháp lý liên quan đến cạnh tranh, mà chủ yếu xử lý các khía cạnh pháp lý khác như đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Ngoài khung pháp lý do EU ban hành thì các quốc gia thành viên EU cũng ban hành luật cạnh tranh của riêng mình để điều tiết các quan hệ cạnh tranh xảy ra trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, phù hợp với các nguyên tắc chung của EU đặt ra. Nghiên cứu luật cạnh tranh của Pháp, Đức, Anh, Italia...cho phép rút ra một nhận định là tất cả các nước này đều thừa nhận tính tối thượng của luật cạnh tranh khi có sự xung đột với các luật chuyên ngành. Đây cũng là một trong các khuyến cáo của UNCTAD và OECD đối với các quốc gia khi ban hành luật cạnh tranh.
Ông cho rằng, ở Việt Nam, khẳng định luật cạnh tranh là luật chung, còn các luật khác là luật chuyên ngành là điều không hoàn toàn đúng. Cả trên phương diện luật thực định và khoa học pháp lý Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận quan điểm này. Trên giới, luật cạnh tranh từ lâu đã được xem là luật «xuyên suốt » (transversal) giữa luật công và luật tư, là công cụ điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế. Do đó, Pháp, Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ và nhiều nước EU đều coi luật cạnh tranh là một ngành luật hết sức đặc thù, nó không phải là một nhánh của luật thương mại hay luật dân sự như nhiều người vẫn hình dung ;
Thứ hai, so với pháp luật các nước thì hiện tại trên thế giới chưa có quy định nào giống với quy định tại điều 83 của Luật ban hành các quy phạm pháp luật của Việt Nam trong đó đưa ra khái niệm “với những luật tương đương, luật nào ban hành sau sẽ có hiệu lực thay cho luật ban hành trước đó”. Điều này sẽ là một rào cản lớn cho việc thực thi pháp luật ở Việt Nam vì như vậy sẽ làm phá vỡ tính đồng bộ của hệ thống pháp luật do các luật sẽ phải liên tục đuổi theo nhau để được ưu tiên áp dụng.
Đồng thời, nếu chấp nhận quá nhiều ngoại lệ thì sẽ không đảm bảo tính hiệu quả của các biện pháp điều tiết cạnh tranh của nhà nước và do vậy, có nguy cơ luật cạnh tranh sẽ bị thủ tiêu.
Ông Huyên cũng đưa ra một số kiến nghị trong đó đáng chú ý là trong quá trình ban hành các luật điều tiết ngành cần tăng cường tham vấn cơ quan quản lý cạnh tranh nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của chính sách cạnh tranh; các cơ quan có thẩm quyền thẩm định/thẩm tra các dự án luật điều tiết ngành (Bộ Tư pháp, các Uỷ ban của QH) cũng cần rà soát kỹ để tránh đưa ra quá nhiều ngoại lệ. Đồng thời, quy định nói trên của Luật BHVBQPPL cần sớm được nghiên cứu sửa đổi nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế và tránh các tranh cãi pháp lý không cần thiết.
Các đại biểu tham gia hội thảo đánh giá cao những thông tin mà các diễn giả cung cấp và cho rằng, Luật cạnh tranh nhìn chung còn tương đối khá mới mẻ so với đại bộ phận các cơ quan quản lý tại địa phương. Tuy nhiên chủ đề hội thảo bàn luận là khá thiết thực trong bối cảnh trên toàn quốc, nhiều doanh nghiệp thời gian qua có hành vi phản cạnh tranh và đã được xét xử trong đó rất nhiều vụ việc đơn thuần do doanh nghiệp thiếu hiểu biết về luật cạnh tranh cũng như thẩm quyền của Cục quản lý cạnh tranh. Trong thời gian tới, các cơ quan hữu quan cần tăng cường phối hợp, đặc biệt tránh tình trạng chồng chéo giữa các Luật vì điều này gây thiệt hại trước tiên là doanh nghiệp, đồng thời cũng gây khó khăn trong công tác thực thi luật cạnh tranh tại Việt Nam. Một số ý kiến đại biểu cho rằng cần tăng cường hơn nữa vai trò của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định các văn bản luật được ban hành vì cơ quan này là đơn vị « gác cổng » đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý của các luật lệ, quy định trước khi được ban hành.
Đồng thời, trong quá trình dự thảo cần tham vấn các viện nghiên cứu pháp luật, các trường đại học, .. Đây là những cơ quan có những nghiên cứu và đánh giá chuyên sâu về luật pháp. Việc tận dụng các ý kiến của các đơn vị này sẽ hộ trợ tích cực cho việc ra đời những chính sách, luật lệ hợp lý, dễ áp dụng vào thực tiễn.
Hội thảo đã kết thúc thành công tốt đẹp với rất nhiều thông tin bổ ích đối với các đại biểu tham gia hội thảo. Những kiến thức từ hội thảo sẽ là công cụ hữu ích giúp các đại biếu áp dụng trong quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh tại cơ quan, địa phương mình.
Với cơ quan quản lý cạnh tranh, những kinh nghiệm và ý kiến trao đổi tại hội thảo sẽ được ghi nhận và xem xét áp dụng vào quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp luật cạnh tranh nói riêng và pháp luật nói chung trong thời gian tới.
Lê Duy
|